THỰC HÀNH TỨ NIỆM XỨ KHI CÚI LẠY PHẬT


THUC HANH TU NIẸM XU KHI CUI LAY PHAT 2

Khi (hành giả) cúi xuống và chú niệm, hành giả không chỉ thấy chuyển động hướng xuống mà còn thấy được tính chất nặng đi kèm theo. Khi ngẩng lên, hành giả không chỉ thấy chuyển động hướng thẳng lên mà còn thấy tính chất nhẹ đi kèm theo. Những hành giả đã thực hành lâu ngày hẳn đã chứng nghiệm điều đó.

Những hành giả mới phải cố gắng. Quý vị cũng sẽ thể nghiệm điều đó ngay tại chỗ, nhưng điều này đòi hỏi mức độ chánh niệm cao. Các cử chỉ của thân không được quá nhanh, mà phải chậm rãi, nhẹ nhàng như cung cách người bệnh.

Một hành giả có chánh niệm cao khi lạy sẽ lạy thật thong thả, cúi xuống nhẹ nhàng từng tý một, quả thật rất đáng tán thán. Ngược lại những người chú niệm chưa tốt thì thường lạy xuống rất nhanh. Các thiền sư thích cách lạy nhanh hay lạy chậm? Các vị ấy thích cách lạy chậm rãi với nhiều chánh niệm.

Nhìn vào cách lạy của hành giả, người ta có thể đoán biết được hành giả có chánh niệm hay không. Với người lạy nhanh, thiền sư biết rằng sự chú niệm của hành giả chưa tốt và chưa liên tục. Dù không nói ra, nhưng thiền sư thích cách lạy chậm rãi của người có chánh niệm hơn.

Khi niệm “muốn lạy…, muốn lạy…”, “lạy…, lạy…”, chuyển động cúi xuống dần dần cũng như tính chất nặng đi kèm được hành giả cảm nhận trong khi lạy. Khi niệm “muốn thẳng lên…, muốn thẳng lên…”, hành giả chú ý đến chuyển động nâng lên dần dần cũng như tính chất nhẹ đi kèm theo.

Thấy được tính chất nặng là thấy được Ðịa đại và Thủy đại. Thấy được tính chất nhẹ là thấy được Hỏa đại và Phong đại. Xin hãy đọc 3 lần:

Yếu Pháp:

“Trong hai yếu tố
Ðịa đại, Thủy đại
Nổi bật là nặng”.

“Trong hai yếu tố
Hỏa đại, Phong đại
Nổi bật là nhẹ”.

Hỏa đại và Phong đại, cũng như địa đại và thủy đại, bốn yếu tố này là nổi bật nhất trong tâm thức của hành giả. Thấy được chúng, có thể nói rằng hành giả đã thấy pháp….

Mỗi lần lạy Phật, có bao nhiêu thiện pháp mà một người có nền tảng Tứ Niệm Xứ thu thập được? Bốn hay năm? Người nào muốn có nhiều thiện pháp sẽ bảo là “năm”. Vâng, bảo là có năm thiện pháp thì cũng đúng.

  1. Niệm “muốn cúi lạy…, muốn cúi lạy…”, hành giả có được thiện pháp do thực hành Quán Tâm Niệm Xứ.
  2. Niệm “cúi lạy…, cúi lạy…” hành giả có được thiện pháp do thực hành Quán Thân Niệm Xứ.
  3. Niệm “an tịnh” hay “thư thái” hành giả có được thiện pháp do thực hành Quán Thọ Niệm Xứ. Nếu trong khi lạy mà bị đau ở ngực hay ở lưng, hành giả niệm “đau…, đau…”, thì hành giả cũng có được thiện pháp do thực hành Quán Thọ Niệm Xứ.
  4. Khi lạy Phật, nghe nhiều người khác đang lạy gây tiếng động lớn, hành giả chỉ nhận kịp thời với pháp hiện tại bằng cách niệm “nghe…, nghe…” nên hành giả có được thiện pháp do thực hành Quán Pháp Niệm Xứ.
  5. Do hướng tâm về Ðức Phật, nên khi lạy hành giả còn có thiện pháp do đảnh lễ Phật.

Như vậy cả thảy có năm loại thiện pháp: bốn thiện pháp do Tứ Niệm Xứ và một thiện pháp do niệm Phật. Một người có nền tảng Niệm Xứ sẽ tạo được rất nhiều thiện pháp; thật là tuyệt vời phải không.

Nguồn: Chín yếu tố phát triển Thiền Quán (Thiền sư Kundalàbhivamsa –  Tỳ kheo Thiện Minh dịch Việt)



Chuyên mục:thiền tứ niệm xứ, TRUYỀN THỐNG TU TẬP, TU TẬP TUỆ

Thẻ:, , ,

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s

%d bloggers like this: