SỰ HIỂU NHẦM ĐỊNH (SAMATHA) LÀ ĐỊNH TRONG GIỚI-ĐỊNH-TUỆ


 

gioi dinh tue khac vi Gioi Dinh Tue

Hiện tại, có một số người đang hiểu nhầm như vậy. Đức Phật dạy Giới – Định – Tuệ thì Định này là Định trong Tuệ và Tuệ trong Định. Điều này chỉ có được khi thực hành thiền Tứ Niệm Xứ. Vì thế Đức Phật mới nói đây là con đường duy nhất, không có con đường thứ hai.

Do hiểu nhầm Định trong Giới -Định-Tuệ là Định trong thiền Vắng Lặng (Samatha). Đặc biệt hiểu nhầm theo cách mà tác phẩm Thanh Tịnh Đạo trình bày nên có một số pháp môn, hành giả nhất định đi theo Giới – Định (Samatha) – Tuệ như cách Thanh Tịnh Đạo trình bày. Thực ra khi Đức Phật nói Giới – Định – Tuệ chính là : Giới – Định (sinh Tuệ) – Tuệ. Chúng ta lưu ý rằng tất cả các Định (samatha) không sinh trí Tuệ (Tuệ thấy vô thường, khổ, vô ngã). Vì nếu sinh trí Tuệ thì Đức Phật không phải rời bỏ hai vị thầy đầu tiên ở tầng thiền Định cao nhất. Nếu phải qua thiền Vắng Lặng hay Định (Samatha) mới có trí Tuệ sinh khởi thì hẳn có gì đó đã sai khi ngài A Nan chuyển từ tư thế ngồi sang nằm liền đắc đạo quả A La Hán mà không qua tầng thièn Vắng Lặng nào. Thêm nữa, Đức Phật hẵn sẽ không cần phải ra đời để dạy thiền Tứ Niệm Xứ vì các ngoại đạo ngày xưa chỉ việc tu Định (samatha) đến bậc thiền cao nhất là sinh trí Tuệ là tự nhiên giải thoát khỏi vòng luân hồi.

Trong Thanh Tịnh Đạo, ngài Buddhagosa chỉ trình bày rõ ràng thế nào là Giới, Định (samatha) và Tuệ. Nhưng do hiểu nhầm Giới-Định (samatha)-Tuệ trong Thanh Tịnh Đạo thành một pháp môn tu tập nên mới bị nhầm lẫn về Định (samatha) trở thành Định trong Giới-Định (sinh Tuệ) -Tuệ. Trong khi thực chất Định (samatha) không sinh trí Tuệ vì các đề mục của nó là khái niệm Tục đế. Ngay trong Tứ Niệm Xứ, Đức Phật đã dạy khi hành giả “có định” phải biết “tôi đang có định” để xuất ra khỏi định, vì khi biết “tôi đang có định” tức là tâm hành giả phải rời khỏi đề mục mới nhận ra điều này để thấy sự sinh diệt của tâm. Tức là trí Tuệ sinh lên để thấy pháp thực tính chân đế.

Sự thật thực hành thiền Tứ Niệm Xứ để thấy sát na định đâu có dễ. Hành giả có thể dễ dàng nhập Định (samatha) trong 2 giờ với tầm, tứ, hỷ, lạc, nhất tâm do an trú vào đề mục không thay đổi (khái niệm cố định). Nhưng để ngồi 2 giờ với các đề mục sinh diệt liên tục trong Tứ Niệm Xứ thì không dễ chút nào, vì không có chỗ nào để hành giả an trú khi đề mục bị sinh diệt liên tục. Thực hành lâu ngày, chính sự sinh diệt trở thành sự an trú của hành giả Tứ Niệm Xứ. Đây chính là Tuệ thấy vô thường, khổ, vô ngã nhờ thực hành Tứ Niệm Xứ (còn gọi là thiền Tuệ hay định trong sự sinh diệt còn gọi tắt là định trong sát na sinh diệt hay sat na định).

Định là sự chú tâm trên đề mục, Khi chú tâm trên 40 đề mục khái niệm thì trở thành thiền Vắng Lặng (Samatha). Khi chú tâm trên đề mục chân đế (Tứ Niệm Xứ) thì mới thấy sự sinh diệt của thân tâm, gọi là Vipassana tức là thấy thực tính của danh sắc (ngũ uẩn) là vô thường, khổ, vô ngã. Lúc này Định này mới trở thành Chánh Định trong Bát Chánh Đạo. Cụ thể là Ba Bảy Phẩm Trợ đạo chỉ có được bắt đầu từ Tứ Niệm Xứ. Tất cả các Định khác không bắt đầu bằng Tứ Niệm Xứ đều trở thành Tà định vì không đưa đến trí Tuệ giải thoát. Giáo pháp Giới -Định-Tuệ lấy 37 phẩm trợ đạo làm cốt lõi, 37 phẩm trợ đạo lấy Tứ Niệm Xứ làm Nhân, Tứ Niệm Xứ làm duyên.

Ví dụ tham khảo:

TẠI SAO TU TẬP 20 NĂM MÀ KHÔNG THẤY ĐẠO. PHÂN BIỆT NIỆM VÀ CHÁNH NIỆM.

Niệm là ghi nhận, quan sát đơn thuần. Niệm trở thành chánh niệm khi quan sát các đề mục chân đế trong Tứ Niệm Xứ. Khi Niệm không phát triển thành Chánh Niệm thì trở thành Tà Niệm. Gọi là Tà Niệm vì không sinh Chánh Định (vì chỉ Chánh Niệm mới sinh ra Chánh Định trong Bát Chánh Đạo). Với các đề mục Tục Đế (40 đề mục) trong thiền Vắng Lặng (samatha) đã nhốt chúng sinh trong vòng luân hồi nên Định này sẽ trở thành Tà Định nếu hành giả không thoát ra khỏi Định này để quan sát sự sinh diệt của tâm và cảnh khi xuất định.

Niệm và Chánh Niệm

Khi Niệm không phát triển thành Chánh Niệm thì tham, sân, si đồng sinh với Niệm ấy nên tâm sẽ đồng hoá việc làm hay cảnh ấy là “ta” và “của ta”. Tức là người đó không thể thấy biết mình đang tham, đang sân, hay đang si. Khi bước đi trên dây, người nghệ sĩ đi với tâm mong muốn đi hết chặng đường trên dây (tâm tham), và cùng với tâm sợ hãi bị rơi xuống đất khi đang đi (tâm sân). Tâm sở chánh niệm không bao giờ đồng sinh với tâm tham và sân. Nghĩa là ở đâu tâm tham và sân có mặt thì ở đó không thể có mặt của tâm chánh niệm và trí tuệ. Đó là lý do người nghệ sĩ xiếc đi trên dây 20 năm vẫn y nguyên tham, sân, si vì người đó không phát triển được Niệm thành Chánh Niệm. Người tu tập mà không biết phân biệt Tục Đế và Chân Đế trong Tứ Niệm Xứ thì không thể có Chánh Niệm và cũng sẽ có cùng kết quả đi trên dây như vậy. Chỉ có các đề mục trong thiền Tứ Niệm Xứ mới có khả năng sinh ra Chánh Niệm (quan sát đề mục trên thân tâm thay đổi liên tục để thấy vô thường, khổ, vô ngã). Đó là lý do Đức Phật nói thực hành Tứ Niệm Xứ là cách duy nhất để nhận ra và thoát khỏi tham, sân, si.



Chuyên mục:CÁC SÁCH LUẬN VÀ VĂN HỌC, thiền tứ niệm xứ, TU TẬP GIẢNG PHÁP, TU TẬP GIỚI, TU TẬP TUỆ, TU TẬP ĐỊNH

Thẻ:

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: